lich su hinh thanh da lat
Mạc Tường Vi. (Vanchuongphuongnam.vn) - Đà Lạt hiện nay được biết đến là thành phố thơ mộng và là điểm đến du lịch lý tưởng. Thế nhưng ít ai biết, 129 năm trước, nơi đây là một vùng đất hoang vu giá lạnh, rừng núi hiểm trở…. Năm 1893 được một nhà khoa học
Lịch sử hình thành chợ Đà Lạt không phải ai cũng biết. Bích Ngọc - 14:23 23/03/2021. Chợ Đà Lạt là một trong những ngôi chợ lầu đầu tiên ở Việt Nam. Ngôi chợ sầm uất, là nơi mua sắm của nhiều thế hệ con dân Đà Lạt, được gọi với cái tên đầy thân thương "con tim của thành phố Đà Lạt".
Vay Tiền Online Chuyển Khoản Ngay. Cuốn sách này sẽ đem đến cho độc giả những sử liệu và diễn giải quí giá, đầy chân thật của chặng đường hành trình lịch sử Hội thánh Tin Lành Việt Nam vào buổi sơ khai. Mục sư Lê Hoàng Phu là một trong những người thầy lớn của các thế hệ con cái Chúa thuộc hội thánh Tin lành Việt Nam. Ông tốt nghiệp trường Kinh Thánh Đà Nẵng vào năm 1951, sau đó lấy bằng cử nhân vào năm 1959 tại Nyack College. Năm 1967, ông lấy bằng MA Thạc sỹ tại Wheaton College. Đến năm 1972, ông lấy bằng tiến sỹ tại New York University. Cuốn Lịch sử Hội thánh Tin lành Việt Nam 1911-1965’ là luận án Tiến sĩ của Mục sư Lê Hoàng Phu năm 1972 tại Đại học New York, Hoa Kỳ. Trước đây, tác phẩm này được dịch sang Việt Ngữ dùng làm sách Giáo khoa trong chương trình nghiên cứu Phúc Âm TEE. Ấn bản mới này 2011 đã được hiệu đính và bổ sung đầy đủ phần chú thích của tác giả nằm ghi dấu 100 Năm Tin Lành trên Đất Việt. Nhà xuất bản Tôn giáo 2011, Sách dày 430 trang. Khối lượng 820g. Tại website quí tín hữu khắp nơi có thể đặt mua các sản phẩm mới này và được giao hàng tận nơi đi khắp toàn cầu. Linh Nguyễn Chuyên mục này được thực hiện với sự cộng tác của – Mục vụ Sách toàn cầu cho Người Việt.
Tỉnh Tuyên Đức được thành lập theo Sắc lệnh số 261-NV ngày 19/5/1958 của Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa, trên cơ sở địa phận đô thị Đà Lạt và quận Dran của tỉnh Lâm Đồng. Tỉnh Tuyên Đức gồm 3 quận, 11 tổng, 28 xã theo Nghị định số 592-BNV/NC7/NĐ ngày 30/10/1958 của Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa Quận Đơn Dương Dran cũ có 4 tổng Lạc Mỹ, Linh Nhân, Tu Trang, Xuân Lạc. Quận Đức Trọng có 4 tổng Dinh Tân, Mỹ Lệ, Ninh Thanh, Sơn Binh. Quận Lạc Dương có 3 tổng Đa Tân, Nhân Lạc, Phước Thọ. Ngày 7/9/1967, tỉnh lỵ tỉnh Tuyên Đức được dời khỏi thị xã Đà Lạt đến xã Tùng Nghĩa, quận Đức Trọng. Từ năm 1976, tỉnh Tuyên Đức được sáp nhập vào tỉnh Lâm Đồng. Đà Lạt Hoàng Hôn năm 1967 – Hồ Xuân Hương Địa bàn tỉnh Tuyên Đức cũ hiện nay tương ứng với thành phố Đà Lạt và các huyện Đức Trọng trừ xã Ninh Gia, Đơn Dương, Lạc Dương, Đam Rông và một phần huyện Lâm Hà cùng thuộc tỉnh Lâm Đồng ngày nay. Đà Lạt Hoàng Hôn năm 1967 – Phía trước là Hồ Xuân Hương LỊCH SỬ TÊN GỌI ĐÀ LẠT Địa danh Đà Lạt được bắt nguồn từ chữ Đạ Lạch, tên gọi của con suối Cam Ly. Khởi nguồn từ huyện Lạc Dương, dòng suối Cam Ly chảy qua khu vực Đà Lạt theo hướng Bắc – Nam, trong đó đoạn từ khoảng Hồ Than Thở tới thác Cam Ly ngày nay được gọi là Đạ ngôn ngữ của người Thượng, Da hay Dak có nghĩa là nước, tên gọi Đà Lạt có nghĩa nước của người Lát, hay suối của người Lát người Cơ Ho. Trong một bài phỏng vấn đăиg trên tạp chí Revue Indochine tháng 4 năm 1944, côɴԍ sứ Cunhac, một trong những người tham gia xây dựng thành phố từ ngày đầu, đã nói “Cho mãi tới những năm sau này, khung cảnh ban sơ νẫи không có gì thay đổi. Ở tại chỗ của cái hồ nước trước đó, con suối nhỏ của bộ lạc người Lát đã chảy qua và người ta đã gọi suối này là Đà Lạt”. Đà Lạt 1970-71 Photo by John Aires Vào thời kỳ đầu, các bản đồ cũng như sách báo thường chỉ nhắc đến địa danh Dankia hay Lang Biang. Nhưng sau khi Đà Lạt được chọn làm nơi nghỉ dưỡng thay vì Dankia, và đặc biệt từ khi nơi đây trở thành một thành phố, địa danh Đà Lạt mới xuất hiện thường xuyên. Những người có côɴԍ kiến thiết thành phố còn sáng tạo một câu cách ngôn khéo léo bằng tiếng La Tinh Dat Aliis Laetitiam Aliis Temperiem, có nghĩa Cho người này nguồn vui, cho kẻ khác sức khỏe. Đà Lạt 1970-71 Photo by John Aires Tác giả André Morval đã viết câu cách ngôn chiết тự này ở đầu một bài báo nhan đề Dalat Cité de la Jeunesse với nội dung “Những người khai sinh ra nơi nghỉ mát trên miền núi danh tiếng của chúng ta đã xác định một cách rất hợp lý những nét hấp dẫn và những đặc tính tốt bằng một câu cách ngôn ghép chữ đầu rất khéo léo để liền theo huy hiệu thành phố”. Năm 1937, khi xây dựng chợ Đà Lạt mới thay cho ngôi chợ cũ bằng gỗ bị cháy, người ta đã đề dòng chữ Dat Aliis Laetitiam Aliis Temperiem trên tường đầu hồi của côɴԍ trình, phía trên là huy hiệu thành phố hình tròn, tạc hình một đôi thanh niên nam nữ người dân tộc. Đà Lạt 1970-71 Photo by John Aires Với khí hậu ôn hòa, cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp và những di sản kiến trúc Pháp phong phú, Đà Lạt còn được gọi bằng nhiều cái tên khác như “Thành phố mù sương”, “Thành phố ngàn thông”, “Thành phố ngàn hoa”, “Xứ hoa Anh Đào” hay “Tiểu Paris”. ĐÀ LẠT THỜI SƠ KHAI Vùng cao nguyên Lâm Viên từ xa xưa là địa bàn cư trú của người Lạch, người Chil và người Srê thuộc dân tộc Cơ Ho. Cuối thế kỷ 19, nhiều nhà thám hiểm người Pháp đã thực hiện những chuyến đi xuyên sâu vào vùng đất này. Tiên phong trong số họ là bác sĩ Paul Néis và trung úy Albert Septans với chuyến thám hiểm thực hiện đầu năm 1881. Năm 1893, nhận nhiệm vụ từ Toàn quyền Jean-Marie de Lanessan, bác sĩ Alexandre Yersin đã tiến hành khảo ѕáт một tuyến đường bộ từ Sài Gòn xuyên qua vùng đất của người Thượng và kết thúc ở một địa điểm trên bờ biển Trung Kỳ. Ngày 21 tháng 6 năm 1893, trên hành trình thám hiểm, Alexandre Yersin đã tới cao nguyên Lâm Viên. Năm 1897, trong khi tìm kiếm một địa điểm để xây dựng trạm nghỉ dưỡng station balnéaire d’altitude cho người Pháp ở Đông Dương, Toàn quyền Paul Doumer gửi thư hỏi ý kiến Alexandre Yersin. Khi nhận được thư của Paul Doumer, Alexandre Yersin gợi ý chọn cao nguyên Lâm Viên, một vùng đất lý tưởng thỏa mãn đầy đủ các điều kiện độ cao thích hợp, diện tích đủ rộng, nguồn nước bảo đảm, khí hậu ôn hòa và có thể thiết lập đường giao thông. Cuối tháng 3 năm 1899, Paul Doumer cùng với Alexandre Yersin đích thân đến khảo ѕáт thực tế tại cao nguyên Lâm Viên. Dự án xây dựng Đà Lạt bị gián đoạn khi Toàn quyền Paul Doumer trở về Pháp vào năm 1902 và Toàn quyền Paul Beau, người kế vị, thì không sốt sắng gì về việc xây dựng thị trấn miền núi. Mặc dù vậy, trong khoảng thời gian tiếp theo, nhiều đoàn khảo ѕáт νẫи được gửi đến cao nguyên Lâm Viên để nghiên cứu và các tuyến đường giao thông tới Đà Lạt cũng dần hình thành. Đà Lạt 1970-71 Photo by John Aires Giữa thập niên 1910, Chiến тʀᴀɴн thế giới thứ nhất bùng иổ khiến nhiều người Pháp không thể về quê hương trong những kỳ nghỉ, Đà Lạt dần trở thành nơi họ tìm đến để tìm chút gì của nước Pháp miền ôn đới. Ngày 20 tháng 4 năm 1916, Hội Đồng Phụ Chính của vua Duy Tân thông báo Dụ thành lập thị tứ Đà Lạt. Toàn quyền Maurice Long đi thêm bước nữa khi bổ nhiệm Ernest Hébrard làm chủ sự quy hoạch thị trấn Đà Lạt. Hébrard là người chủ trương dùng mẫu kiến trúc cổ điển Âu châu nhưng thêm vào đó một số trang trí thuộc mỹ thuật Việt Nam để tạo ra phong cách riêng mà ông gọi là une architecture indochinoise. Hébrard đã thực hiện lối kiến trúc này trong những côɴԍ trình khác như tòa nhà của Viện Viễn Đông Bác cổ, Hà Nội. Nay lối kiến trúc này được áp dụng quy mô hơn ở Đà Lạt. Đà Lạt 1970-71 Photo by John Aires Đặc biệt là Hébrard vẽ đồ án có vườn hoa, trường sở, sân vận động, biệt thự nhưng hoàn toàn không có côɴԍ xưởng sản xuất để giữ y nguyên không gian trong lành và yên tĩnh của thị trấn này. Trong vòng ba mươi năm, từ một địa điểm hoang vu, một thành phố đã hình thành với đầy đủ hệ thống cơ sở hạ tầng, các trường học, вệин viện, khách sạn, côɴԍ sở và dinh diện tích tổng cộng là 1760 ha, thì 500 ha được cнíɴн quyền quy hoạch cho các cơ sở côɴԍ chánh, 185 ha thuộc nhà binh, 173 ha cho côɴԍ chức và 206 cho dân bản xứ. Phần còn lại còn lại non 700 ha thì bán cho người Pháp. Đà Lạt 1970-71 Photo by John Aires Tới thập niên 1940, Đà Lạt bước vào giai đoạn cực thịnh của thời kỳ Pháp thuộc, “thủ đô mùa hè” của toàn Liên bang Đông Dương. Trong những năm cнιếɴ тʀᴀɴн, thành phố νẫи giữ vai trò một trung tâm du lịch nghỉ dưỡng và khoa học giáo dục của Việt Nam Cộng Hòa. Dưới thời Tổng thống Ngô Đình Diệm, nhiều trường học, trung tâm văи hóa và các côɴԍ trình kiến trúc tiếp tục ra đời. Đà Lạt cũng là nơi định cư của nhiều người ᴅι cư từ miền Bắc. Nhưng kể từ năm 1964, khi cuộc cнιếɴ тʀᴀɴн Việt Nam bước vào giai đoạn khốc liệt, việc phát triển đô thị ít được coi trọng, thay vào đó là sự xuất hiện của những côɴԍ trình phục vụ cho mục đích quân sự. Đà Lạt 1970-71 – Trung Tâm Huấn Luyện Cảnh Sát Dã Chiến. Photo by John Aires Sau cнιếɴ тʀᴀɴн, Đà Lạt tiếp tục bước vào một thời kỳ khó khăи khi phải đối mặt với vấn đề lương thực và thực phẩm, việc xây dựng phát triển thành phố vì thế không còn được chú tích canh tác nông nghiệp mở rộng đã ảnh hưởng nhiều tới cảnh quan thiên nhiên và môi sinh của thành lịch Đà Lạt giai đoạn này cũng trầm lắng bởi sự khó khăи chung của nền kinh tế Việt cuối thập niên 1980, đầu thập niên 1990, thành phố dần phát triển trở lại với làn sóng khách du lịch tìm tới ngày một đông và hệ thống cơ sở hạ tầng tiếp tục được xây dựng. Sau năm 1975, thành phố Đà Lạt có 6 phường đánh số thứ тự từ 1 đến 6 và 3 xã Tà Nung, Xuân Thọ, Xuân Trường. Đà Lạt 1970-71 – Hồ Xuân Hương Photo by John Aires Đà Lạt 1970-71 Photo by John Aires Đà Lạt 1970-71 Photo by John Aires Đà Lạt 1970-71 – Tiệm vàng là nhà nhạc mẫu của Kiến Trúc Sư Ngô Viết Thụ. Photo by John Aires Đà Lạt 1970-71 Photo by John Aires Đà Lạt 1970-71 Photo by John Aires Phi Trường Liên Khương Đồn Cam Ly Rạp Hòa Bình – Ảnh năm 1967 Nhà Thờ Đà Lạt Dalat 1969 Photo by Ron Sanders Không ảnh trung tâm Đà Lạt Đà Lạt 1961 – Bên trong chợ Đà Lạt mới xây dựng xong. by John Dominis Đà Lạt 1961 – Bên trong chợ Đà Lạt mới xây dựng xong. by John Dominis Đà Lạt 1961 – Bên trong chợ Đà Lạt mới xây dựng xong. by John Dominis
- Thứ bảy, 23/04/2022 1942 GMT+7Theo dõi MTĐT trênĐà Lạt hiện nay được biết đến là thành phố thơ mộng và là điểm đến du lịch lý tưởng. Thế nhưng ít ai biết, 129 năm trước, nơi đây là một vùng đất hoang vu giá lạnh, rừng núi hiểm trở… Năm 1893 được một nhà khoa học người Pháp gốc Thụy Sĩ mở một cuộc hành trình thám hiểm, khám phá ra vùng đất Cao Nguyên này và từ đó ông khai sinh ra thành phố Đà căn biệt thự cổ thiết kế theo kiến trúc của người Pháp đã được sửa sang Cách đây khoảng hơn 10 thế kỷ, mảnh đất này đã có loài người sinh sống. Đó là khẳng định của các nhà sử học, các nhà khảo cổ học, và trải qua các triều đại phong kiến Việt Nam hầu như mảnh đất này bị lãng quên. Sau này có một viên quan khá nổi tiếng ở Viễn Đông đặt chân đến mảnh đất này vào thời điểm trước năm 1893. Lúc đến đây ông cũng có ghi chép nhưng không có đề xuất gì nên Đà Lạt hoàn toàn vẫn là bí ẩn! Sau đó, vào năm 1893 có một nhà khoa học tên Alexandre Yersin người gốc Thuỵ Sĩ mang quốc tịch Pháp, là một nhà khoa học và chính ông là người sản xuất ra một loại vacxin giệt thạch cứu nhân loại. Sau ba lần thám hiểm thất bại thì lần thứ tư ông đã đặt chân đến vùng đất này. Lúc đó 1 giờ chiều ngày 21/6/1893. Trong hồi ký Alexandre Yersin có viết Trên đường đi thám hiểm, lúc đó chúng tôi gặp một thác nước rất lớn, hùng vĩ ở ven lối mòn. Chúng tôi ghé hỏi già làng thác nước tên gì? Già làng trả lời thác Prenn, chúng tôi tiếp tục hỏi Prenn nghĩa là gì? Già làng trả lời “cà đắng” và quả thật khi phóng tầm mắt ra chung quanh con suối thì chúng tôi thấy rất nhiều vạt cà đắng. Đoàn chúng tôi đã dừng lại tham quan và khám phá thác khoảng một giờ đồng hồ sau đó nhắm về hướng Bắc tiếp tục đi thám ảnh Đà Lạt trong sương mù Đoàn thám hiểm lên đến cửa ngõ Đà Lạt khoảng 5 giờ chiều và dừng chân bên một ngọn đồi lớn. Bấy giờ xác định là đồi Robin, cửa ngõ Thác Prenn Đà Lạt đồi Robin chính là ga đi của cáp treo Đà Lạt ngày nay. Hồi ký của Yesin tiếp tục viết Khi đó trời rất lạnh, chúng tôi hầu như phải đốt lửa và thay nhau canh thú dữ. Dự kiến 7 giờ sáng hôm sau chúng tôi nhằm hướng Tây Bắc để thám hiểm rộng ra vùng đất này, nhưng vì sương mù dày đặc cho nên khoảng 8 giờ chúng tôi mới ra đi. Hướng thám hiểm của chúng tôi hầu như không có lối đi, phải phát quang bụi rậm rồi đi bộ dò dẫm. Chúng tôi đi mãi đi mãi cho đến 4 giờ chiều thì gặp một hồ nước rất lớn giữa rừng thông. Tôi tạm đặt tên cho nó là Lăng Lắc. Trong đoàn thám hiểm của Yersin có một vị tên là Yagus, ông này là người dân tộc Chăm, tháp tùng với đoàn từ Ninh Thuận lên đến xứ này. Trong lúc kiếm củi để nấu cơm chiều, Yagus phát hiện ra một bản dân tộc khoảng 10 nóc nhà nép mình bên hồ nước lớn. Ông ta về bẩm báo với Yersin, Yersin lập tức đến hỏi già làng nơi đây gọi là gì? Già làng trả lời “Đả Lạch”. Yersin hỏi tiếp Đả Lạch nghĩa là sao? Thì già làng mới cắt nghĩa “Đả” là nước, những con sông con suối, “Lạch” là dân tộc Lạch cho nên ghép vào thành “Đả Lạch”. Năm tháng qua đi, người bản địa cứ gọi nơi đây là “Đả lạch”, người Pháp phát âm chệch đi chút xíu “Đà las” là cụm từ của tiếng La Tinh các chữ cái đầu với nhau. Nó có cái nghĩa rất hay là Cho người này niềm vui, cho người khác sự mát mẻ. Và sau này khi người Kinh của mình đến đây, lập ra đồn điền chè, cà phê và xây dựng thành phố Đà Lạt thì đã gọi mềm đi là “Đà Lạt”.Nhà báo Hà Hữu Nết phải cùng nhà thơ Lê Thiếu Nhơn - UVBCH, trưởng ban nhà văn trẻ HNV TP HCM Như vậy nguyên thủy tên của địa danh vùng đất này là Đả Lạch, Đà Las, Đà Lạt. Sau này Yersin còn nhiều lần lên thám hiểm nữa và ông có viết một tờ trình cho toàn quyền Pháp Yandti. Ông khẳng định trên toàn cõi Việt Nam không có nơi nào lý tưởng như Đà Lạt để xây dựng trung tâm nghỉ mát và nghỉ dưỡng cho người Pháp. Ông đang loay hoay tìm một địa danh để nó tương đồng với mẫu quốc, tức là phải mát mẻ và đồng thời có mấy yếu tố để xây dựng trung tâm nghỉ dưỡng 1 phải là mát mẻ khí hậu ôn đới, 2 là dễ dàng đi, đến giao thông thuận tiện và thứ ba là có nguồn nước để nuôi sống hai vạn dân. Đặc biệt yếu tố thứ tư là phải có độ cao trên 1000m trở lên. Người Pháp rất thích ở những nơi có độ cao bởi vì đó là những điểm căn cứ quân sự để khống chế phía dưới đồng bằng, Đà Lạt đã thỏa mãn tất cả những yếu tố như vậy cho nhu cầu đặc biệt quan trọng của người Pháp. Từ đó Đà Lạt được hình thành. Đà Lạt ngày nay được mệnh danh là một thành phố mộng mơ, thành phố ngàn hoa. Không những nổi tiếng về ngành du lịch bậc nhất của Việt Nam mà còn là một là thành phố lãng mạn, xứ sở tình yêu, xứ sở đầy hoa và thật quyến rũ bởi vẻ đẹp tự nhiên của núi rừng, của thiên nhiên nơi đây. Đà Lạt đã dâng cảm xúc và tiếp lửa sáng tác cho các tác giả văn chương trong lĩnh vực thơ ca, văn học, nghệ thuật. Thế nhưng có những người vẫn chưa rõ nguồn gốc về sự hình thành của Đà Lạt. Một thành phố được mọc lên giữa rừng để rồi sau đó dần lớn lên theo nếp sống và kiến trúc của người báo Hà Hữu Nết dẫn các hội viên - ban nhà văn trẻ HNV TP HCM đi tham quan làng Cù Lần Là thiên đường du lịch của Việt Nam ngày nay, bởi Đà Lạt là thành phố trên núi, có thiên nhiên, kiến trúc và con người độc đáo. Không cần phải nói nhiều về thiên nhiên nhưng đặc biệt có một điều, người Đà Lạt cũng như những người yêu mến Đà Lạt, trong nước và quốc tế, trong lòng họ đều mong rằng, Đà Lạt phát triển nhưng vẫn phải giữ bản sắc riêng, vẫn phải là Thành Phố trong rừng và rừng trong Thành Phố. Rừng thông Đà Lạt là một chiếc máy điều hòa thiên nhiên khổng lồ luôn ướp lạnh và thanh lọc khí trời làm cho khí hậu Đà Lạt mát mẻ hơn, nếu không có rừng thông, Đà Lạt sẽ chết! Ông Hà Hữu Nết - Chủ tịch Hội Văn Học Nghệ Thuật, Phó Tổng biên tập báo Lâm Đồng cho biết “Năm 1984, tôi là bộ đội ở Hà Nội chuyển ngành vào Đà Lạt. Đơn vị tôi đóng quân ở đường Nguyễn Du. Tôi vào ban đêm và sáng hôm sau khi mở mắt ra, tôi ngạc nhiên vô cùng bởi cảm giác như mình đến một nước Châu Âu xa lạ. Nếu như tôi không nhìn thấy người dân ở đây ăn mặc và nghe giọng nói của họ thì tôi cảm thấy nó như một nước Châu Âu nào đó. Điều đó đối với tôi rất thú vị bởi thành phố trong rừng và rừng trong thành phố. Tôi cảm giác như Đà Lạt được xây dựng bởi một cuộc thi lớn về kiến trúc, tất cả những bản vẽ đoạt giải và chất lượng cao sẽ được Pháp xây dựng ở Đà Lạt. Nhưng sau này khi tìm hiểu kỹ hơn, đặc biệt là giới kiến trúc sư Việt Nam, trong đó có ông Hoàng Đào Kính - cựu phó Chủ tịch hội kiến trúc sư Việt Nam, ông ấy khẳng định không phải như vậy. Đây là sự hoài niệm của người Pháp ở Việt Nam. Người Pháp đã mang bản vẽ của nhà mình đến xây dựng Đà Lạt để nhớ quê hương mặc dù thiết kế nhỏ hơn một chút. Như vậy là mỗi người mỗi vẻ, tạo ra đủ kiến trúc của Bắc- Trung- Nam. Đặc biệt là những lò sưởi, cầu thang, bồn hoa, thảm cỏ và những ngôi biệt thự được xây dựng theo địa hình tự nhiên của Đà Lạt. Những biệt thự được đặt nhẹ nhàng trên thảm cỏ, rừng thông… góp phần tô điểm thêm cho Đà Lạt - đẹp đẽ, ấn tượng và văn minh.”Nhà báo Hà Hữu Nết cùng các hội viên - HNV TP HCM tại nhà sáng tác Đà Lạt Nhà báo Hà Hữu Nết cho biết thêm, Đà Lạt trước đây là một Thành phố đặc biệt “4 có 3 không” bốn có Một ngày có bốn mùa, với khung thời gian của một ngày sáng, trưa, chiều, tối đã mang 4 mùa xuân, hạ, thu, đông; ba không Không đèn giao thông, không xích lô, không máy lạnh, là sự khác biệt nhất nước. Nhưng hiện nay TP Đà Lạt đã được xây dựng hệ thống đèn giao thông nên TP Đà Lạt chỉ còn “4 có 2 không”. Ông rất tự hào về Đà Lạt, một Thành phố có một không hai. Một Thành phố du lịch nổi tiếng, với khí hậu quanh năm mát mẻ, con người hiền hòa, mến khách. Đà Lạt đang lưu giữ hàng ngàn biệt thự cổ, ẩn mình giữa đại ngàn thông xanh, luôn làm ngất ngây người dân và du khách thập phương bởi kiến trúc ở thành phố mang đậm phong cách châu Âu thế kỷ XIX, là sự hoài niệm của người Pháp ở Đông Dương. Tôi yêu Đà Lạt qua sách báo, phim ảnh, âm nhạc từ nhỏ. Đà Lạt “Thành phố trong rừng, rừng trong thành phố” đẹp và thơ mộng đến nao lòng. Đà Lạt như “Mảnh châu Âu” mà tạo hóa ban tặng cho Việt Nam.
lich su hinh thanh da lat